một chuyến viếng thăm

Con đường dài thăm thẳm, có những đoạn thẳng tắp, nhưng cũng có những khúc sỏi đá gập ghềnh. Ba chiếc xe nối đuôi nhau trong một mùa hè nóng bức. Chúng tôi đi thăm Chị, một nữ tu dòng kín Carmelo. Chị đã không còn ở với chúng tôi từ mười mấy năm qua. Những năm đầu tiên, Chị tu ở một dòng hoạt động, nên còn được về thăm nhà hằng năm. Từ khi Chị đổi ý định, chuyển sang tu dòng kín thì chị không còn được về thăm nhà mỗi mùa hè như trước nữa. Chị bảo:

– Luật của dòng là thế, trừ phi ba mẹ chết mới có thể được phép về để tang.

Lần cuối cùng tôi gặp Chị đã bảy năm về trước. Cả gia đình sang tu viện thăm Chị. Mùa hè của nước Ý với cái nóng cháy da. Hơn bảy năm qua, Chị đã được Bề Trên chuyển đi nơi này nơi khác. Gọi là đi, nhưng đi tới đâu thì cũng chưa là “đi”, vì cũng chỉ là đến một chi nhánh khác của dòng, và cũng chỉ trong một phạm vi bốn vách tường vôi kín.

Lần này Chị được chuyển về Tiệp Khắc.

Là đứa con thứ tư trong nhà, Chị có dáng người mảnh mai, xinh xắn, là đối tượng của nhiều đàn ông con trai thời bấy giờ, cái thời mà người Việt Nam sang đây tỵ nạn đầu tiên. Chị có mái tóc dài, gương mặt tuy chỉ trung bình, nhưng ở cái thời nam thừa nữ thiếu thì bỗng dưng Chị lại trở nên cao giá. Biết bao người thanh niên trong vùng theo đuổi Chị, nhưng Chị không ưng ai. Chị sinh hoạt tích cực trong ca đoàn, và tham gia hướng dẫn các lớp giáo lý. Chị vắng nhà liên tục vào những ngày cuối tuần, điều mà anh tôi rất khó chịu và hay phát biểu một câu xanh rờn:

– Chỉ giỏi ăn cơm nhà vác ngà voi.

Ấy thế mà cái “ngà voi” ấy càng ngày càng có độ nặng và dầy. Và dĩ nhiên, cho dù anh tôi có hài lòng hay không thì chị vẫn làm theo ý Chị.

Nhà tôi thời ở Việt Nam có tất cả 6 anh chị em. Hai chị lớn đã đi lấy chồng và dọn ra riêng, nên trong nhà chỉ còn lại bốn. Tôi được chia phòng với Chị. Gọi là “chia” cho sang chứ thật sự chỉ là “ở ké”. Đúng ra thì tôi được chia một phần bốn giang san của Chị, gồm một cái giường và một ngăn tủ quần áo, còn lại đều là của Chị. Từ cái giường lớn hơn cho tới cái bàn học, ba ngăn tủ áo và mấy ngăn bàn, rồi cái bàn phấn cỏn con và tấm gương treo trên vách mà tôi chỉ được soi ké.

Đã vậy, kỷ luật của Chị dành cho tôi rất gắt gao. Tôi không được bày bừa trong căn phòng của Chị. Tất cả những sách vở hay bút màu, vẽ vời xong thì phải cất đi ngay. Tuy nhiên, căn phòng ấy cũng không mấy gì là gọn gàng cho lắm, hay nói cách khác là Chị có thể bày bừa, nhưng tôi thì không. Vì tôi chỉ là kẻ “ăn nhờ ở đậu”.

Chị đi vượt biên trước tôi, và được tàu Đức vớt, nên thời gian đầu tiên Chị định cư tại Đức. Vì vượt biên một mình và trôi dạt vào Tây Đức một mình, nên Chị được gia đình ông bà người Đức đỡ đầu và nuôi nấng  một thời gian. Mãi đến năm 1982, Chị mới được bảo lãnh về Na Uy để đoàn tụ với ba và các chị em khác. Nhưng nếu so sánh với tôi thì Chị vẫn là người tới trước, và vì thế nên Chị có quyền chiếm lĩnh giang san, là căn phòng ngủ lớn nhất trong căn nhà tuổi thơ của chúng tôi.

Khi tôi lớn hơn một chút, thì mơ ước lớn nhất của tôi là tủ áo quần của Chị. Chị có những chiếc áo đầm màu sắc rực rỡ và những đôi guốc cao thần thoại. Tôi hay chờ đợi những giây phút huy hoàng, hay phải nói là những giây phút hạnh phúc nhất lúc bấy giờ, là được chị để lại cho những chiếc áo đầm của Chị, những chiếc áo Chị không còn thích nữa. Tuy là những chiếc áo cũ, nhưng đối với tôi là cả một niềm vui lớn. Từ đó tôi mới kinh nghiệm rằng, những thứ mình không xài, vứt đi, lại có thể là một kho tàng cho người khác.

Chị có bạn trai. Đôi khi cũng dắt về nhà chơi. Những lúc như thế, tôi với ông anh kế hay rình rập xem họ làm gì. Chị giận, đóng ầm cửa lại. Nhưng hai đứa chúng tôi không bỏ qua, chia phiên nhau dòm qua ổ khóa, nhưng có thấy gì đâu, vì cái lỗ ổ khóa nhỏ xíu nên rất hạn chế tầm nhìn. Và cũng vì tầm nhìn bị hạn chế, nên óc tưởng tượng của chúng tôi càng có cơ hội gia tăng.

Rồi một ngày Chị báo cho gia đình biết là chị sẽ đi tu. Chúng tôi rất ngạc nhiên. Lanh lẹ như Chị, ham vui như Chị, hoạt động như Chị, và đôi chân đạp “trên bốn vùng chiến thuật” như Chị mà đòi đi tu thì chẳng ai tin. Nếu trong nhà có người đi tu thì chắc hẳn phải là tôi, một đứa con gái nghiêm nghị, ít nói, trầm tính, những bản tính mà người đời cho là hợp với những người tu hành. Còn chị thì không! Nhưng Chị đã có quyết định như thế, và hơn nữa Chị còn tỏ ra rất cương quyết với chọn lựa của mình, nên gia đình tôi không ai cản ngăn được. Và Chị dứt áo ra đi.

Căn phòng rộng lớn bỗng nhiên một ngày trở thành giang sơn của riêng tôi, một điều mà tôi chưa bao giờ dám mơ ước. Cái bàn học, bàn phấn, tấm gương treo trên tường, và thậm chí bốn ngăn tủ lớn đựng áo quần đã thuộc về tôi. Đáng lý ra tôi phải rất vui mừng, vì tất cả những gì của chị bây giờ đều là của tôi, tất cả những gì mà ngày trước tôi đã từng mơ ước được sở hữu. Nhưng không! Căn nhà bất chợt trở nên trống vắng, căn phòng con gái trở nên lặng lẽ khi không còn Chị. Tôi lủi thủi đi đi về về. Sau đó không lâu, chúng tôi rời khỏi căn nhà ấy để dọn đi nơi khác.

Trên đường đến thăm chị bị kẹt xe! Con đường đã dài lại dài hơn. Dự định hơn nửa ngày chúng tôi mới tới nơi. Khi nghe tin chị về Tiệp, gia đình chúng tôi liền rủ nhau đến đó, vừa làm một chuyến du lịch mùa hè, vừa tiện thể đến thăm Chị luôn. Như mọi năm, chúng tôi tìm mướn một căn nhà nghỉ mát, nhưng để tìm một căn nhà đủ phòng ốc và giường ngủ cho một gia đình mười mấy người thì không phải là chuyện dễ. Kiếm mãi tìm mãi, mới có thể tìm được một căn nhà ưng ý, nhưng hơi bất tiện vì căn nhà nằm trên những dãy núi ở hướng bắc nên cách thủ đô khá xa.

GPS chỉ có thể dẫn chúng tôi đến khu làng Chị đang sinh sống, còn tu viện nằm ở góc nào thì đành phải nhờ vào người dân bản xứ. Sau khi chỉ chỏ hướng này hướng nọ, chúng tôi cũng vẫn không tìm được tới nơi. Tôi nghe trong xe có tiếng nói vọng:

– Thì cứ theo hướng nhà thờ mà chạy, không đúng thì hỏi mấy ông cha, thế nào họ chả biết chỗ mấy bà sơ.

Câu nói như đùa nhưng lại rất có lý, thế là chúng tôi tìm đến nhà thờ, và theo lời hướng dẫn, liền sau đó chúng tôi đến tận nhà dòng.


Tranh: Bảo Huân

Chị, và các Sơ đều ra đón chúng tôi. Tay bắt mặt mừng. Lúc nào Chị cũng cười tươi. Hình như từ lúc đi theo Chúa, chị hay cười hơn. (Không như ngày xưa, chị hà tiện nụ cười với tôi lắm. Chị chỉ cười đùa với bạn bè của chị mà thôi). Bây giờ thì lúc nào gặp Chị, Chị cũng cười, và hình như gặp ai Chị cũng cười như thế.

Chúng tôi được các Sơ chuẩn bị cho một bữa ăn chu đáo, gồm món súp khai vị, món chính là gà nướng ăn với khoai tây hoặc cơm, và món tráng miệng gồm kem và cocktail. Mọi người ai cũng đói, nên ăn ngấu nghiến, ăn ngon lành. Ông anh tôi cười khoái chí:

– Hình như mỗi người một cái đùi gà, mà mình “dớt” được hai cái nên đã quá là đã.

Chị hai tôi la anh:

– Đã ham ăn mà còn hay la to, đúng là cái tật không chừa.

Sau những giây phút trò chuyện, gửi gấm, cũng như “thanh toán nợ nần”, chúng tôi ra sân chụp mấy tấm hình lưu niệm. Trời chiều, ánh nắng mặt trời cũng bắt đầu mệt mỏi. Chúng tôi chia tay nhau. Ba chiếc xe tiếp tục nối đuôi nhau trong cuộc hành trình trở lại. Tôi thấy bóng Chị nhỏ nhoi trong chiếc áo dòng nâu, đứng sau cánh cửa tu viện, vẫy vẫy tay cho đến khi chiếc xe cuối cùng lăn bánh ra khỏi sân tu viện.

Tôi không tin vào hai chữ số phận như người ta vẫn luận bàn, nhưng không thể không tin vào bàn tay xếp đặt của Thiên Chúa. Nếu Ngài không gọi thì chắc chắn Chị tôi sẽ không đi tu, và nếu Ngài không xếp đặt thì chắc Chị sẽ không bao giờ đi tu dòng kín. Đối với tôi, và không phải riêng tôi, mà đối với cả gia đình tôi, thì đó là một sự lạ, một chuyện không bao giờ xảy ra nếu không có sự quan phòng của Thiên Chúa.

“Xin Ngài đã chọn thì cũng hãy giữ gìn Chị mãi mãi trong tình yêu và sự quan phòng của Ngài”.

Thi Hạnh

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s